Chủ Nhật, 7 tháng 4, 2013

Cảm niệm cố Hòa thượng Thích Giác Dũng (N.Thanh-N.Trang)


(1929 - 2013)
Nam mô Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Kính bái bạch Giác linh cố Hòa thượng Viện chủ Tịnh xá Ngọc Quang, Thích Giác Dũng.
Kính bạch Chư tôn Thiền đức Tăng Ni.
Kính thưa quý quan khách cùng nam nữ Phật tử gần xa.
Hôm nay ngày 06 tháng 04 năm 2013 (26/02 Quý Tỵ), chúng con từ phương xa về đây đảnh lễ, thọ tang cố Hòa thượng nhằm bày tỏ lòng biết ơn, hiếu kính với bậc trưởng bối trong nhà Đạo.
Quỳ trước linh đài, chúng con kính dâng đôi lời cảm niệm.
Kính thưa toàn thể quý vị.
Khi hay tin Hòa thượng từ bỏ xác thân về miền Cực lạc, chúng con vô cùng bất ngờ và thương tiếc.
Mới ngày nào đây, chúng con được nhìn thấy Tôn nhan của Ngài trên báo chí trong các lần Phật sự của Hệ phái, Giáo đoàn...
Và cách đây không lâu, chúng con còn được diện kiến Ngài khi Ngài đến chứng minh, khai mạc khóa tu thiền đầu xuân "Tâm Tĩnh Lặng" tại Tịnh xá Ngọc Chơn - Buôn Hồ. Và cũng trong giờ phút trang nghiêm thanh tịnh đó, Ngài đã truyền trao giới pháp cho hàng hậu học chúng con.
Tuy là lần đầu gặp, nhưng với dáng vẻ đỉnh đạc, uy nghiêm và phong thái hiền từ nhân hậu của Ngài đã ghi sâu vào tâm trí chúng con hình ảnh một bậc Tôn sư đáng kính.
Tiếc thay, chúng con chưa được tiếp xúc, gần gũi bên Ngài để được Ngài ban đạo pháp thì Ngài đã ra đi.
Biết bao thương cảm trào dâng, chúng con không sao diễn tả hết. Hàng cư sĩ hậu học chúng con kính dâng mấy dòng thơ thay lời cảm tạ công đức cao cả của Ngài:
Hòa thượng Tôn sư khai trí huệ
Thuyền từ Bát Nhã độ quần sanh.
Ngọc Quang Tịnh xá chốn lành,
Con về đảnh lễ thọ tang nhớ Người.
Giờ này đây, Ngài đã Cao Đăng Phật Quốc. Chúng con thành kính thắp nén tâm hương, nguyện cầu Ngài sớm hồi nhập Ta-bà để tiếp tục con đường hoằng hóa, độ sanh "Nối truyền Thích-ca Chánh pháp".
Nam mô Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Tịnh xá Ngọc Quang, chiều 06/04/2013
Đức Tổ Sư chứng minh
Chúng con kính viếng
Ngọc Thanh- Ngọc Trang

Một số hình ảnh kỷ niệm của Tôn sư trong khóa tu thiền "Tâm Tĩnh Lặng" đầu xuân Quý Tỵ 2013 tại Tịnh xá Ngọc Chơn, Buôn Hồ.










Di chúc của Người:


Thứ Sáu, 5 tháng 4, 2013

Giai Thoại Bát Phong Xuy Bất Động

Tô Đông Pha cũng rất hâm mộ Đạo Phật và ông cũng tự xem mình như một Phât tử. Ông thường đàm luận thân mật với các thiền sư. Sách Thiền tông lục có chép một câu chuyện về tánh Ngã mạn của Tô Đông Pha:
Đông Pha có một thiền sư thân tình là Phật Ấn, ông nầy rất lỗi lạc. Chùa của Phật Ấn ở bờ tây sông Dương Tử, trong khi nhà của Đông Pha ở bờ phía đông. Một hôm, Đông Pha đi thuyền sang thăm Phật Ấn, nhưng không có thiền sư ở nhà. Đông Pha bèn viết lên một miếng giấy mấy chữ có ý bông đùa: Tô Đông Pha là một Phật tử vĩ đại mà dù có 8 ngọn gió thổi cũng chẳng động được.
Phật Ấn về, thấy tờ giấy của Đông Pha viết như thế, sư mỉm cười và viết thêm: Nhảm nhí ! Những gì mà ông vừa viết chẳng hơn một phát rắm.
Sư Phật Ấn sai đệ tử đem tờ giấy đó qua trả cho Đông Pha. Tô Đông Pha thấy thiền sư Phật Ấn lăng mạ mình thì nổi giận, tức tốc đi thuyền qua sông để hỏi Phật Ấn. Khi Đông Pha qua tới, thấy Phật Ấn liền la lên:
- Ông có quyền gì mà thóa mạ tôi bằng lời lẽ như vậy? Quen biết tôi lâu ngày mà chẳng lẽ ông mù quáng đến thế sao?
Phật Ấn lặng lẽ quan sát họ Tô rồi mỉm cười nói:
- Tô Đông Pha, một Phật Tữ vĩ đại mà 8 ngọn gió không lay động được, thế mà giờ đây chỉ một phát rắm cũng đủ thổi ông ta bay qua sông đến tận bờ bên nầy.
Tô Đông Pha nghe lời nói đó xong thì bất ngờ, đứng sửng khá lâu và tỉnh ngộ.
Đó là thiền sư Phật Ấn dùng cái mưu chước ấy để thức tỉnh Tô Đông Pha về cái tánh Ngã mạn của mình, để họ Tô đến gần với giáo lý của Phật.

Về bát phong hay bát thế phong, nghĩa là tám ngọn gió đời, tám pháp ở thế gian hay làm loạn động, mê hoặc lòng người. Theo Từ điển Phật học Huệ Quang, tập I, tr.414, tám ngọn gió ấy gồm:
1 - Lợi (lợi lộc),
2 - Suy (hao tổn),
3 - Hủy (chê bai chỉ trích),
4 - Dự (gián tiếp khen ngợi người),
5 - Xưng (trực tiếp ca tụng người),
6 - (dựng sự việc giả để nói xấu người),
7 - Khổ (gặp chướng duyên nghịch cảnh, thân tâm bị bức bách, khổ não),
8 - Lạc (gặp được duyên tốt, thuận cảnh, thân tâm vui vẻ, hân hoan).

Chuyện chuyển kiếp của Tô Đông Pha và Thiền sư Phật Ấn

Vọng tưởng có hai phần: thô và tế. Vọng tưởng thô ai cũng biết, bởi hành tướng nó rất rõ ràng. Còn vọng tưởng vi tế, người tu già dặn cũng phải e ngại.
        Người mới tu, chỉ có thể nhận biết được các vọng tưởng thô, khó lòng phát hiện được các vọng tưởng vi tế. Ví như một ao nước đục, khi bọt nổi lên mặt ao ta mới nhận thấy. Còn phần bọt nhỏ nhẹ từ dưới đáy ao, muốn thấy rõ nó, cần phải có một ao nước thật trong. Người tu hành lâu (thiền định hay các pháp môn khác), đến trình độ nước tâm trong lặng mới thấy biết được vọng tưởng vi tế.
        Bạch Thánh pháp sư, một buổi sáng từ nơi giường bước lại ghế ngồi, trong khoảng chừng ba giây đồng hồ, đã phát giác trong tâm mình nổi lên đến vài mươi vọng niệm sai biệt. Chừng ấy ngài mới chứng minh được lời nói trong kinh: "Một niệm có chín mươi sát na, một sát na có chín trăm sanh diệt." Đây là vọng tưởng thuộc loại vi tế.
        Quang Huệ và Giới Diễn là hai vị thiền sư đều ngộ Đạo. Một hôm trong khi đồng ngồi thiền, nơi tiềm thức của ngài Giới Diễn thoạt nổi lên một niệm sắc ái, ngài liền diệt trừ; song bên kia Quang Huệ thiền sư đã hay biết. Sau khi xuất định, ngài Quang Huệ làm bài kệ có ý trêu cợt ngài Giới Diễn. Giới Diễn thiền sư buồn thẹn, liền thâu thần nhập diệt.
        Ngài Quang Huệ hối hận, gọi đệ tử đến phó chúc rằng: "Bạn ta trong khi thiền định có một niệm sắc ái, sau tất lụy về sắc; vì phiền ta mà thị tịch, sau sẽ phá hoại Tăng bảo. Lỗi ấy một phần do ở nơi ta, nếu ta không theo hóa độ, tất sẽ mang lấy hậu quả!"
        Dặn dò xong, ngài cũng viên tịch theo luôn. Sau, Quang Huệ chuyển thân làm thiền sư Phật Ấn; Giới Diễn chuyển kiếp làm Tô Đông Pha. Đông Pha do kiếp trước có tu nên làm quan to trong triều, thông minh trí tuệ mà cũng đa tài đa tình. Ông có đến bảy người thiếp, và thường đem sự thông minh bác lãm của mình mà vấn nạn các vị thiền sư. Về sau Tô Đông Pha bị ngài Phật Ấn chiết phục, ông mới quay lại đường tu.
        Cho nên vọng tưởng vi tế, người tu lâu cũng phải e ngại là thế. Tiên đức có câu:
Công phu không thiếu cũng không dư,
Muôn kiếp tham si chữa dễ trừ!
        Vậy người tu khi có chút cảnh giới tốt chớ vội khoe khoang tự đắc, phải nhìn gương ngài Giới Diễn; và cũng đừng vội tự thị chê bai kẻ khác, mà phải xem gương Quang Huệ thiền sư.

Tô Đông Pha và Thiền Sư Phật Ấn

Một hôm, Tô Đông Pha đến chùa Kim Sơn chơi với Thiền sư Phật Ấn cả ngày. Hai người đối nhau luận Thiền, Đông Pha hỏi Phật Ấn:
- Ngài thấy tôi thế nào? 
Phật Ấn đáp:
- Rất trang nghiêm, giống một ông Phật! 
Tô Đông Pha nghe nói vô cùng phấn khởi. Phật Ấn lại hỏi Tô Đông Pha:
- Ông thấy ta ra sao? 
Đông Pha thấy Phật Ấn mập tròn, lại mặc áo đen, bèn đáp ngay:
- Giống một đống phân bò!
Phật Ấn không nói gì. Đông Pha cho rằng mình đã thắng một keo, lòng rất sung sướng, về nhà hớn hở nói với Tô tiểu muội:
- Này muội muội, hồi nào tới giờ anh bị Ấn lão cho đo ván mãi, đấu không lại ông ta. Không biết hôm nay Hòa thượng trở cờ hay học sĩ này gặp may mà Ấn lão không còn lời để nói, không có lý để trình đấy.
Nói rồi bèn thuật lại chuyện luận chiến vừa qua. Tô tiểu muội thiên tư hơn người, tài hoa xuất chúng, nghe ca ca kể xong câu chuyện, liền nói:
- Xì, anh thua đậm rồi!
Đông Pha tức quá mắng :
- Ta làm sao lại thua? Nếu ta thua sao ông ấy không nói một lời nào?
Tô tiểu muội nói:
- Này ca ca, tôi xin hỏi anh, Phật quý hay phân bò quý?
Đông Pha nói:
- Đương nhiên là Phật quý rồi!
Tô tiểu muội nói:
- Phật là Ấn lão thấy, còn phân bò là anh thấy, thế có phải là anh bị đánh úp không? Ấn lão đắc thắng hoàn toàn, còn gì để nói nữa!
Đông Pha nghe tiểu muội nói thế, như bong bóng xì hơi, biết rằng bị rơi vào tròng của Phật Ấn, thua một keo nặng.

BÀI HỌC ĐẠO LÝ:
Trong tâm thức của con người chứa đựng rất nhiều hạt giống. Có những hạt giống dễ thương nhưng cũng có rất nhiều hạt giống không dễ thương; có những hạt giống làm Phật nhưng cũng có rất nhiều hạt giống làm chúng sanh. Nếu mình để cho những hạt giống không dễ thương, những hạt giống của giận hờn, ganh tỵ, ích kỷ, hơn thua… có cơ hội phát sinh thì mình nhìn đâu cũng thấy “phân bò” hết. Ngược lại, nếu mình biết nuôi dưỡng và phát triển những hạt giống từ, bi, hỷ, xả, những hạt giống thương yêu, cảm thông, tha thứ… thì mình nhìn ai cũng thấy dễ thương. Cho nên, “tâm thế nào thì nhìn ra thế ấy”, “Thương người thương cả lối đi, ghét người ghét cả tông chi họ hàng”. Đó, cũng cái tâm ấy, khi có tình thương thì ngay cả lối đi mình cũng thấy đẹp, thấy thương, nói chi nhìn thấy người ta cười! Vậy mà khi không thương nữa, lúc đã ghét rồi, thì đâu chỉ người ấy đáng ghét, cả bà con của người ta cũng trở thành người xấu.
Khi tâm mình có năng lượng từ bi và trí tuệ, nó sẽ làm tươi mát đời sống của tự thân và đem đến cho mọi người xung quanh niềm an lạc, hạnh phúc. Khi ấy nhìn đâu mình cũng có thể thấy hoa, dù khi hoa đang là rác.

Khi tiếp xúc với mọi người, nguyện tiếp xúc và khơi dậy những hạt giống thương yêu, hiểu biết, từ bi hỷ xả. Đó là mình đang nuôi dưỡng nhau, để xây dựng một cuộc sống an lành, hạnh phúc. Nhìn vào cái xấu của nhau, thì chẳng có ích lợi gì, mà còn thêm mệt. Rõ ràng khi mình phê bình ai, giận hờn ai, sẽ thấy mệt vô cùng. Cuộc sống sẽ tốt đẹp hơn nếu mình biết nhận thức theo chiều hướng tích cực, mọi người sẽ dễ thương hơn nếu mình biết khơi dậy và nuôi dưỡng hạt giống thương yêu, hiểu biết.
(Thích Nguyên Đạt)
http://www.daophatngaynay.com/vn/phatgiao-qt/con-nguoi-qt/5555-To-Dong-Pha-va-Thien-Su-Phat-An.html

Tịnh xá Ngọc Tân - Long An

Thứ năm, ngày 04 tháng 04 năm 2013 (24/02 Quý Tỵ)
Lịch trình:
Địa điểm đến: Tịnh xá Ngọc Tân, 57 Châu Thị Kim, P3, Tp. Tân An, Long An. ĐT: 072.3826073
Mục đích: Lễ húy kỵ lần 6 Cố Ni Trưởng Thích Nữ Trung Liên
Đi cùng: chị Hoa Trí, chị Tâm Đạo (Phụng)
Xe buýt: bus số 7, bus LA 628
Xuất phát: BX Chợ Lớn 7g
Đến nơi: 9g
Ra về: 12g 30
Ghi nhanh:
Tịnh xá Ngọc Tân nằm ở trung tâm Tp. Tân An, Long An do Ni sư TN Thành Liên trụ trì.
Tịnh xá xây theo mô hình bát giác gồm 2 tầng có cầu thang lên từ 4 hướng bên ngoài, rất đẹp. Nhìn chung cơ sở vật chất khang trang, sạch đẹp. Trong khuôn viên vừa phải, ngôi Tịnh xá thật hài hòa, trang nhã.
Được Sư cô Phước Liên ( ĐTTX khóa 2) rủ về tham dự lễ húy kỵ Sư Bà, nhóm 4 chị em hoan hỷ khởi hành.
Vừa bước chân vào Tịnh xá, mọi người đều trầm trồ trước vẻ đẹp, uy nghiêm của ngôi nhà Khất Sĩ.
Ni sư Thành Liên, trụ trì rất thân thiện, gần gũi.
Phật tử đạo tràng LA cũng dễ mến.
Tham dự chứng minh có Chư Tôn đức: HT. Giác Nhường (Cần Thơ), HT. Giác Giới (Vĩnh Long), HT. Giác Dũng (An Giang-GD 1), Ni trưởng Nhã Liên (Dĩ An-Bình Dương), Ni trưởng Phục Liên và Ni trưởng Thích nữ Tố Liên (Tx Ngọc Phương), cùng chư Tăng Ni các miền tịnh xá.
Buổi cúng trai tăng diễn ra trang trọng, chu đáo. Sau thời kinh cúng dường, Nhị vị HT đã có đôi lời tán thán công đức của Chư Ni Tịnh xá cùng môn đồ pháp quyến, quý Phật tử đã thành tâm cúng dường Tam bảo, HT chúc cho toàn thể đạo tràng "Đạo tâm tăng trưởng, Phước huệ vô song ". HT. Giác Giới ban đạo từ, nhắc nhở công đức tu tập của các bậc tiền nhân (Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên).
Lắng nghe những lời hiền từ của nhị vị HT, mọi người vô cùng hoan hỷ.
Nhóm 4 chị em lần đầu tiên đến với Tịnh xá, nhận được sự ân cần, thân mật của quý Ni đã rất cảm kích tấm chân tình của Quý Ni của Tịnh xá và Phật tử địa phương.
Các hình ảnh trong ngày:




HT. Giác Dũng (GD1)-HT. Giác Nhường-HT. Giác Giới


Bài KINH PHƯỚC THÍ
Thành kính là phước báu.
Quên mình là cội phước.
Phước là sự bố thí
Cầu xin cho tín chủ mau đến quả Trì Giới.
Phước thí là con đường nhẫn nhục
Cầu xin cho tín chủ mau đến quả Thiền Định.
Phước thí là con đường tinh tấn
Cầu xin cho tín chủ mau đến quả Trí Huệ.
Phước thí là con đường vô lậu
Cầu xin cho tín chủ mau đến quả Chơn Như.
 Phước thí là con đường giải thoát
Cầu xin cho tín chủ mau đến quả An Lạc.
Phước thí là hạng người, Thần, Trời
Cầu xin cho tín chủ mau đến quả Niết-bàn.
Phước thí thuận xuôi theo đường chơn lý, là sự gieo trồng giống lành vào ruộng phước.
Phước thí sống lâu, sắc tốt, yên vui, sức mạnh và trí huệ.
Phước thí sẽ giàu sang, quan, quyền, vua , chúa, sự sung sướng thanh nhàn của cõi Trời.
Phước thí là bến bờ núi báu, cù lao châu ngọc, lầu đài, xe cộ, của quí cõi sống no vui.
Phước  thí là hạnh phúc cao thượng, trong sạch, yên lặng, sáng suốt và chơn không.
Phước  là chơn Phật,thân Tánh, đầu người, nhơn từ, quảng đại, lễ hiếu, thiện nền.
Cầu cho tín chủ phát lòng không trên, chánh đẳng chánh giác thêm lên.
Trời thần kỉnh phục, Tiên Thánh mến vì.
Chư Phật vừa lòng, gương lành đáng kể.
Phước huệ gồm thâu, ý nguyện toại cầu.
Phiền  não đoạn tuyệt, ô nhiễm tránh xa,
Cúng thí là người Bồ Tát.
Cầu xin cho chư Bồ Tát, mau đến quả Như Lai.
Cúng dường nơi Tam Bảo.
Cầu xin cho tín chủ mau đến quả Phật Pháp Tăng.
(Bài học Khất sĩ)

TỊNH XÁ AN LẠC
Địa chỉ: A. Bình Hưng 1, X. Bình Mỹ, H. Châu Phú, T. An Giang.
ĐT: 076.3889010
Năm xây dựng: 1976
Người sáng lập: HT. Thích Giác Dũng (GĐ I)
Trụ trì: HT. Thích Giác Dũng

TỊNH XÁ NGỌC MINH
Địa chỉ: 103 Lý Tự Trọng, P. An Phú, Q. Ninh Kiều, Tp. Cần Thơ.
ĐT: 071.3830053 (nhắn)
Năm xây dựng: 1950
Người sáng lập: Tổ sư Minh Đăng Quang
Trụ trì: HT. Thích Giác Nhường

TỊNH XÁ NGỌC VIÊN (Tổ đình)
Địa chỉ: 4/20/2 đường Xóm Chài, P.2, Tp. Vĩnh Long, T. Vĩnh Long.
ĐT: 070.3823827
Năm xây dựng: 1948
Người sáng lập: Tổ sư Minh Đăng Quang
Trụ trì: HT. Thích Giác Giới

TỊNH XÁ NGỌC TÂN (Ni)
Địa chỉ: 283/9B A. Đông Chiêu, X. Tân Đông Hiệp, H. Dĩ An, T. Bình Dương.
ĐT: 0650.3742079
Năm xây dựng: 1973
Người sáng lập: Sư bà Thuận Liên
Trụ trì: NT. Thích Nữ Nhã Liên

TỊNH XÁ NGỌC PHƯƠNG (Tổ đình)(Ni)
Địa chỉ: 498/1 Lê Quang Định, P.1, Q. Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh.
ĐT: 08.38940841 – 08.39852759
Năm xây dựng: 1957
Người sáng lập: NT. Thích Nữ Huỳnh Liên
Trụ trì: NT. Thích Nữ Ngoạt Liên
 
TỊNH XÁ NGỌC TÂN (Ni)
Địa chỉ: 57 Châu Thị Kim, P.3, Tp. Tân An, T. Long An.
ĐT: 072.3826073
Năm xây dựng:
Người sáng lập:
Trụ trì: NS. Thích Nữ Thành Liên



Thứ Hai, 1 tháng 4, 2013

Kinh Tạp A Hàm - 816 đến 821 - HỌC

Quyển 29
Kinh 816 Học(1)
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có ba học. Những gì là ba? Đó là tăng thượng Giới học, tăng thượng Ý học, tăng thượng Tuệ học. Sau đó Thế Tôn liền nói kệ rằng:
Người đầy đủ ba học,
Là Tỳ-kheo chánh hạnh;
Tăng thượng giới, tâm, tuệ,
Nỗ lực siêng ba pháp.
Dũng mãnh, thành trì vững,
Luôn giữ gìn các căn.
Ngày cũng như ban đêm,
Ban đêm cũng như ngày.
Trước lại cũng như sau,
Sau lại cũng như trước;
Như trên cũng như dưới,
Như dưới cũng như trên.
Các tam-muội vô lượng,
Chiếu khắp cả các phương;
Đó lối đi giác ngộ,
Tập tươi mát bậc nhất.
Lìa bỏ vô minh tránh,
Tâm ấy khéo giải thoát.
Ta Đấng Thế Gian Giác,
Minh hạnh đều đầy đủ.
Trụ chánh niệm không quên,
Tâm này được giải thoát.
Khi thân hoại mạng chung,
Như đèn hết dầu tắt.
Sau khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
Kinh 817 Học(2)
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Cũng có ba học nữa. Những gì là ba? Đó là tăng thượng Giới học, tăng thượng Ý học, tăng thượng Tuệ học.
“Thế nào là tăng thượng Giới học? Tỳ-kheo an trụ giới, luật nghi Ba-la-đề-mộc-xoa, đầy đủ oai nghi, hành xứ, thấy tội nhỏ nhặt sanh lòng sợ hãi, thọ trì học giới.
“Thế nào là tăng thượng Ý học? Tỳ-kheo ly dục, ly pháp ác bất thiện… cho đến, chứng và an trụ đệ Tứ thiền.
“Thế nào là tăng thượng Tuệ học? Tỳ-kheo biết như thật về Khổ Thánh đế này, biết như thật về Tập, Diệt, Đạo Thánh đế, đó gọi là tăng thượng Tuệ học.”
Bấy giờ, Đức Thế Tôn liền nói kệ như đã nói ở trên.
Sau khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
Kinh 818 Học(3)

Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có Tỳ-kheo học tăng thượng Giới, không phải học tăng thượng Ý, tăng thượng Tuệ. Có vị học tăng thượng Giới, tăng thượng Ý, không phải học tăng thượng Tuệ.
“Thánh đệ tử an trụ tăng thượng Tuệ, phương tiện tùy thuận mà thành tựu và an trụ, thì sự tu tập tăng thượng Giới, tăng thượng Ý cũng sẽ đầy đủ. Cũng vậy, Thánh đệ tử an trụ tăng thượng Tuệ, phương tiện tùy thuận mà thành tựu và an trú, thì sẽ sống theo tuổi thọ của trí tuệ vô thượng.”
Sau khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
Kinh 819 Học(4)
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Hơn hai trăm năm mươi giới, cứ mỗi nửa tháng, lại thuyết Ba-la-đề-mộc-xoa. Để cho kia tự minh cầu học mà học, nói ba học có thể tổng nhiếp các giới. Những gì là ba? Đó là tăng thượng Giới học, tăng thượng Ý học và tăng thượng Tuệ học.”
Sau khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
Kinh 820 Học(5)
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
Nói như trên, nhưng có một vài sai biệt.
“Thế nào là tăng thượng Giới học? Tỳ-kheo thiên trọng nơi giới, giới tăng thượng; không thiên trọng nơi định, định không tăng thượng; không thiên trọng nơi tuệ, tuệ không tăng thượng. Đối với từng phần từng phần giới vi tế, nếu phạm thì theo đó mà sám hối. Vì sao? Ta không nói là kia không có khả năng, nếu giới kia tùy thuận phạm hạnh, làm lợi ích cho phạm hạnh, làm tồn tại lâu dài phạm hạnh; Tỳ-kheo như vậy giới vững chắc, giới sư luôn tồn tại, giới thường tùy thuận mà sanh, thọ trì mà học. Biết như vậy, thấy như vậy, thì sẽ đoạn trừ ba kết là thân kiến, giới thủ và nghi. Ba kết này đã đoạn trừ, đắc Tu-đà-hoàn, không còn đọa vào pháp đường ác, nhất định sẽ hướng đến Vô thượng Chánh giác, chỉ còn qua lại bảy lần Trời, Người, cứu cánh thoát khổ. Đó gọi là tăng thượng Giới học.
“Thế nào là tăng thượng Ý học? Tỳ-kheo thiên trọng giới, giới tăng thượng; thiên trọng định, định tăng thượng; không thiên trọng tuệ, tuệ không tăng thượng. Đối với từng phần từng phần giới vi tế… cho đến thọ trì học giới. Biết như vậy, thấy như vậy, đoạn trừ năm hạ phần kết, là thân kiến, giới thủ, nghi, tham dục, sân nhuế. Năm hạ phần kết này đã đoạn trừ, đắc Sanh Bát-niết-bàn A-na-hàm, không còn trở lại đời này. Đó gọi là tăng thượng Ý học.
“Thế nào là tăng thượng Tuệ học? Tỳ-kheo thiên trọng giới, giới tăng thượng; thiên trọng định, định tăng thượng; thiên trọng tuệ, tuệ tăng thượng. Tỳ-kheo biết như vậy, thấy như vậy, tâm giải thoát dục hữu lậu, tâm giải thoát hữu hữu lậu, tâm giải thoát vô minh hữu lậu; giải thoát tri kiến,‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những việc cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’ Đó gọi là tăng thượng Tuệ học.”
Sau khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
Kinh 821 Học(6)
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Hơn hai trăm năm mươi giới, cứ mỗi nửa tháng, lại thuyết Ba-la-đề-mộc-xoa. Nếu thiện nam tử tự theo ý muốn của mình mà học, Ta nói cho ba học. Nếu học ba học này, thì sẽ tóm thâu được tất cả các học giới. Những gì là ba? Đó là tăng thượng Giới học, tăng thượng Ý học, tăng thượng Tuệ học.
“Thế nào là tăng thượng Giới học? Tỳ-kheo thiên trọng nơi giới, giới tăng thượng; không thiên trọng nơi định, định không tăng thượng; không thiên trọng nơi tuệ, tuệ không tăng thượng. Đối với từng phần từng phần giới vi tế,… cho đến nên giữ gìn học giới. Nếu Tỳ-kheo biết như vậy, thấy như vậy, đoạn ba kết là thân kiến, giới thủ, nghi; và tham, nhuế, si đã mỏng, thành tựu Nhất chủng đạo. Ở vào địa vị này chưa phải là đẳng giác, nên gọi là Tư-đà-hoàn, hay gọi là Gia-gia, gọi là Thất hữu, gọi là Tùy pháp hành, gọi là Tùy tín hành. Đó gọi là tăng thượng Giới học.
“Thế nào là tăng thượng Ý học? Tỳ-kheo thiên trọng giới, giới tăng thượng; thiên trọng định, định tăng thượng; không thiên trọng tuệ, tuệ không tăng thượng. Đối với từng phần từng phần giới vi tế… cho đến thọ trì học giới. Nếu Tỳ-kheo biết như vậy, thấy như vậy, đoạn được năm hạ phần kết, là thân kiến, giới thủ, nghi, tham dục, sân nhuế; nếu đoạn trừ được năm hạ phần này có thể được Trung Bát-niết-bàn. Ở địa vị này nếu chưa được Đẳng giác, thì được Sanh Bát-niết-bàn; ở địa vị này nếu chưa được Đẳng giác, thì được Vô hành Bát-niết-bàn; ở địa vị này nếu chưa được Đẳng giác, thì được Hữu hành Bát-niết-bàn; ở địa vị này nếu chưa được Đẳng giác, thì được Thượng lưu Bát-niết-bàn. Đó gọi là tăng thượng Ý học.
“Thế nào là tăng thượng Tuệ học? Tỳ-kheo thiên trọng giới, giới tăng thượng; thiên trọng định, định tăng thượng; thiên trọng tuệ, tuệ tăng thượng. Tỳ-kheo biết như vậy, thấy như vậy, tâm giải thoát dục hữu lậu, tâm giải thoát hữu hữu lậu, tâm giải thoát vô minh hữu lậu; giải thoát tri kiến,‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những việc cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’ Đó gọi là tăng thượng Tuệ học.”
Sau khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.

Kinh Tạp A Hàm - 813 - Kim-tỳ-la

Quyển 29
Kinh 813 Kim-tỳ-la

Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở trong rừng Kim-tỳ, tụ lạc Kim-tỳ-la. Bấy giờ Thế Tôn bảo Tôn giả Kim-tỳ-la:
“Nay Ta sẽ nói về sự tinh tấn tu tập bốn Niệm xứ. Hãy lắng nghe và suy nghĩ cho kỹ, Ta sẽ vì ông mà nói.”
Đức Thế Tôn lập lại ba lần như vậy, trong khi Tôn giả Kim-tỳ-la vẫn ngồi im lặng. Bấy giờ, Tôn giả A-nan nói với Tôn giả Kim-tỳ-la:
“Nay Đại Sư nhắc bảo thầy.”
Ba lần như vậy.
Tôn giả Kim-tỳ-la nói với Tôn giả A-nan:
“Tôi đã biết, Tôn giả A-nan! Tôi đã biết, Tôn giả Cù-đàm!”
Khi ấy Tôn giả A-nan bạch Phật rằng:
“Bạch Thế Tôn, thật đúng lúc. Bạch Thế Tôn, đã đúng lúc. Bạch Thiện Thệ, xin vì các Tỳ-kheo nói về tu tập tinh tấn bốn Niệm xứ. Các Tỳ-kheo sau khi nghe xong sẽ phụng hành.”
Phật bảo A-nan:
“Hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì các ông mà nói.
“Tỳ-kheo, nếu lúc niệm hơi thở vào, học như hơi thở vào;… cho đến lúc diệt niệm hơi thở ra thì, nên học như diệt niệm hơi thở ra.
“Bấy giờ Thánh đệ tử khi niệm hơi thở vào, học như niệm hơi thở vào;… cho đến thân hành tĩnh chỉ khi niệm hơi thở ra, học như thân hành tĩnh chỉ hơi thở ra.
“Bấy giờ Thánh đệ tử an trụ chánh niệm quán thân trên thân. Bấy giờ Thánh đệ tử an trụ chánh niệm quán thân trên thân rồi, biết khéo tư duy bên trong cũng như vậy.”
Phật bảo A-nan:
“Thí như, có người cỡi xe từ phương Đông lắc lư mà đến, lúc bấy giờ có giẫm đạp lên gò nỗng không?”
A-nan bạch Phật:
“Bạch Thế Tôn, có như vậy.”
Phật bảo A-nan:
“Cũng vậy, Thánh đệ tử lúc niệm hơi thở và học như niệm hơi thở vào. Cũng vậy,… cho đến khéo tư duy bên trong. Nếu bấy giờ Thánh đệ tử giác tri hỷ,... cho đến, học giác tri ý hành tĩnh chỉ, Thánh đệ tử an trụ chánh niệm quán thọ nơi thọ; khi Thánh đệ tử đã an trụ chánh niệm quán thọ trên thọ rồi, biết khéo tư duy bên trong cũng như vậy.
“Thí như, có người cỡi xe từ phương Nam đi xe lại. Thế nào A-nan, nó có giẫm đạp lên gò nỗng không?”
A-nan bạch Phật:
“Bạch Thế Tôn, có như vậy.”
Phật bảo A-nan:
“Cũng vậy, Thánh đệ tử khi an trụ chánh niệm quán thọ trên thọ, biết khéo tư duy bên trong. Thánh đệ tử giác tri tâm, tâm hân hoan, tâm định, tâm giải thoát khi hơi thở và học như tâm giải thoát hơi thở vào; tâm giải thoát khi hơi thở ra, học như tâm giải thoát hơi thở ra.
“Đệ tử bậc Thánh lúc này sống quán niệm tâm trên tâm; khi đệ tử bậc Thánh đã sống quán niệm tâm trên tâm như vậy rồi, biết khéo tư duy bên trong.
“Thí như, có người đi xe từ phương Tây lại, có giẫm đạp lên gò nỗng không?”
A-nan bạch Phật:
“Bạch Thế Tôn, có như vậy.”
Phật bảo A-nan:
“Cũng vậy, Thánh giác tri tâm… cho đến tâm giải thoát khi hơi thở ra, học như tâm giải thoát hơi thở ra.
“Cũng vậy, Thánh đệ tử bấy giờ an trụ chánh niệm quán tâm trên tâm, biết khéo tư duy bên trong.
Khéo ở nơi thân, thọ, tâm mà diệt bỏ tham ưu, bấy giờ, Thánh đệ tử an trụ chánh niệm quán pháp trên pháp. Sau khi Thánh đệ tử đã an trụ chánh niệm quán pháp trên pháp như vậy rồi, biết khéo tư duy bên trong.
“Này A-nan, thí như nơi ngã tư đường có ụ mô đất, có người cỡi xe từ phương Bắc đi xe lại, có giẫm đạp lên ụ mô đất không?”
A-nan bạch Phật:
“Bạch Thế Tôn, có như vậy.”
Phật bảo A-nan:
“Cũng vậy, Thánh đệ tử an trụ chánh niệm quán pháp trên pháp, biết khéo tư duy bên trong.
“Này A-nan, đó gọi là Tỳ-kheo phương tiện tinh tấn tu bốn Niệm xứ.”
Sau khi Phật nói kinh này xong, Tôn giả A-nan nghe những gì Phật đã dạy, hoan hỷ phụng hành. 
 http://www.budsas.org/uni/u-kinh-aham-tap/tap29.htm