Thứ Ba, 9 tháng 4, 2013

Tưởng niệm cố Trưởng lão HT. Giác Dũng (GĐ Ni Giới)



ĐIẾU VĂN TƯỞNG NIỆM CỐ TRƯỞNG LÃO HT. GIÁC DŨNG
Ni Giới Ngọc Phương
Ủy Viên Thường Trực HĐCM GHPGVN
Viện Chủ Tịnh Xá Ngọc Quang - TP. Ban Mê Thuột - Tỉnh Daklak
Nguyên Trưởng Ban Trị Sự Phật Giáo Tỉnh Daklak
Chứng Minh Ban Trị Sự Phật Giáo Tỉnh Daklak
Trưởng Giáo Đoàn III - Hệ Phái Khất Sĩ
Vừa xả bỏ báo thân, thu thần thị tịch lúc 9giờ45 ngày 25 tháng 2 năm Quý Tỵ (nhằm 05/04/2013), trụ thế 84 tuổi, Hạ lạp 44 năm.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Kính lạy chư Phật Pháp Tăng mười phương ba đời
Kính lạy Đức Tổ sư Minh Đăng Quang
Kính thưa Ban Tổ chức tang lễ
Ngưỡng bạch Giác linh Hòa Thượng,
Nhận được tin Hòa thượng viên tịch, chúng con Ni chúng Tổ đình Ngọc Phương, và các Tịnh xá gần xa trực thuộc Ni Giới Hệ Phái Khất Sĩ, vâng theo sự chỉ dạy của Ni trưởng đương kim Trưởng Ni Giới Hệ Phái Khất Sĩ và Ni trưởng Trụ trì Tổ đình Ngọc Phương, đồng về đây phủ phục năm vóc quỳ trước giác linh Hoà thượng, trong giờ phút nghìn thu vĩnh biệt, thành kính đảnh lễ dâng nén tâm hương, cầu nguyện giác linh Hòa thượng Cao đăng Phật quốc.
Kính bạch Hòa thượng,
Chuông trống rền vang Thầy nằm đó
Chúng con sau trước ngẩn ngơ sầu
Tuy rằng mộng huyễn con đang học
Nhưng vẫn đớn đau lúc tiễn Thầy.
Thật vậy, trong cuộc đời vô thường hữu hạn, sanh ly tử biệt, chúng con không làm sao tránh khỏi sự bùi ngùi xúc động trước sự ra đi vĩnh viễn của một bậc Trưởng lão khả kính, một bậc lãnh đạo sáng ngời phạm hạnh.
Đối với bậc chân tu hiền đức, dù thân tứ đại có mỏi mòn, Hòa thượng vẫn an nhiên tự tại, bởi đã biết sinh tử là lẽ đương nhiên không ai tránh khỏi, xác thân này chỉ là xác thân vay mượn, cõi đời này là cõi tạm nương, cho nên có câu:
Sanh như thể đắp chăn đông,
Tử như cởi áo hạ nồng khác chi.
Xưa nay các pháp hữu vi,
Không sao tránh khỏi hiệp ly vô thường.
Một khi ngộ lý chơn thường.
Pháp thân hiển hiện mười phương chan hoà.
Với hạnh đức trang nghiêm, thanh tịnh, toả sáng gương lành, 84 năm hiện thân cõi Ta-bà, 44 năm trường tùy duyên hoá độ, Hòa thượng đã:
Hồng trần nhẹ gót trong phương tiện,
Bất biến tùy duyên đã phỉ nguyền.
Thuận cơ giáo hóa theo duyên hiện,
Niết Bàn, sinh tử tánh như nhiên
Nay hóa duyên đã mãn, hạnh nguyện viên thành, Hòa thượng an nhiên thị tịch, xả báo an tường, ung dung từ biệt muôn ngàn đệ tử kính thương, quảy dép về Tây, nhẹ nhàng nơi thế giới vô tung bất động, để lại bao niềm tiếc thương kính nhớ của môn đồ pháp quyến và hàng đệ tử gần xa.
Thương thay! Một đoá hoa đàm vừa rụng, hương thơm bát ngát một vùng,
Tiếc thay! Cõi trần gian vắng bóng, bậc sứ giả đại hùng.
Dù Hòa thượng đã ra đi, nhưng công đức và đạo nghiệp của Hòa thượng cống hiến cho Đạo pháp và dân tộc, luôn khắc sâu trong tâm tư ký ức của vạn môn sanh trên cõi thế.
Một mai thân xác tiêu tan
Danh thơm vẫn ở thế gian muôn đời
Pháp thân lồng lộng tuyệt vời.
Chiếu soi pháp giới, rạng ngời chân như.
Hòa thượng đã đến và đi tự tại vô ngại, như cánh nhạn trong không, như bóng trăng in đáy nước. Quả thật:
Trải tấm thân phụng sự cõi trần,
Trần duyên mai một pháp thân sáng ngời.
Chúng con kính cẩn nghiêng mình đảnh lễ, kính nguyện giác linh tuỳ duyên hoá độ, hồi nhập Ta-bà, tiếp chuyển pháp luân, hóa cõi thế trở thành miền Cực Lạc.
Giờ này nơi Tịnh xá Ngọc Quang mây mù giăng phủ, tỉnh Đak Lak đượm vẻ tang thương, bao người đều ngậm ngùi rơi lệ kính tiếc một bậc Cao Tăng đức hạnh, một bậc Trưởng lão xuất chúng, suốt đời tận tụy hy sinh cho Đạo pháp và Dân tộc, Hòa thượng sẽ sống mãi trong lòng pháp lữ và muôn ngàn đệ tử:
Ngọc Quang – Đak Lak cao lồng lộng
Mãi mãi sáng ngời diệu pháp thân,
Giáo hội ghi ân Người đức hạnh
Chúng con cảm trọng Bậc Chân tu.
Giờ đây, trước pháp thân công đức, trước giác tánh viên minh, chúng con xin thành kính dâng nén tâm hương cầu nguyện Hòa Thượng thượng phẩm thượng sanh, Cao đăng Phật quốc, ngưỡng mong giác linh Hòa thượng Từ bi chứng giám.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Tiểu Sử Hòa Thượng Đệ tứ Trưởng GĐ III



          Tiểu sử Trưởng lão Hòa thượng Thích Giác Dũng (1929 – 2013)
Cuộc đời và đạo nghiệp của cố Trưởng lão Hòa thượng là một nhân cách đạo đức an tịnh, là một tấm gương sáng ngời về hạnh khiêm cung, nhẹ nhàng, trầm lặng, tùy hỷ, tùy duyên, tùy thời, thuận theo thế trần mà chẳng ô nhiễm bụi trần, xả thân hành đạo đến giây phút cuối cùng.
I. Thân thế :
Trưởng lão Hòa thượng Thích Giác Dũng thế danh là Lê Mỹ, sinh 1929, tại phường Đập Đá, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài là con trai thứ 7 trong gia đình 3 trai 4 gái. Thân phụ của ngài là cụ ông Lê Minh, và thân mẫu là cụ bà Bùi Thị Tiến, pháp danh Ngọc Hạnh. Thân phụ và thân mẫu ngài đều sinh trong gia đình thuần lương, nên ngài kế thừa được những phẩm chất tốt đẹp của cha mẹ đã sớm ý thức, hình thành nơi ngài đức tính nhẹ nhàng, khiêm cung khi còn nhỏ.
Năm 22 tuổi, thuận theo lời chỉ dạy của song thân, Ngài lập gia đình với cô Nguyễn Thị Thống, pháp danh Ngọc Ân và có 2 người con gái. Hiện nay chỉ còn cô con gái tên là Lê Thị Hằng Nga, pháp danh Ngọc Phượng, cũng là một Phật tử thuần thành tại tịnh xá Ngọc Duyên – Đập Đá – Bình Định.
II. Phát tâm xuất gia thọ giới:
Vốn có túc duyên với Phật pháp, đặc biệt với hạnh Khất Sĩ, nên vào năm 1964 khi Đoàn Du Tăng Khất Sĩ do Đức Thầy Giác An hướng dẫn du hoá đến Bình Định, nghe được giáo pháp trực tiếp từ Đức Thầy, cảm nhận được sự trang nghiêm, thanh tịnh của Tăng đoàn. Quá hạnh phúc khi thấy được trên thế gian này có những bậc xuất trần như vậy, nên dù chưa từng quy y Tam Bảo, chưa hiểu đạo mầu trọn vẹn, nhưng ngài đã lập tức xin cha mẹ và thuyết phục người bạn đời cho mình được nối gót theo các bậc chân sư. Được sự chấp thuận, Ngài liền dõng mãnh xuất gia, được Đức Thầy thâu nhận đặt pháp danh là Thiện Mẫn tại Tịnh xá Ngọc Long – Diêu Trì – Bình Định.
Gần một năm theo Đức Thầy học đạo, đến ngày Rằm tháng 7 năm Ất Tỵ (1965), Ngài được Đức Thầy truyền giới Sa-di với pháp danh là Giác Dũng, tại tịnh xá Ngọc Hạnh - Kon Tum. Buổi đầu xuất gia, Ngài sống trọn lễ hầu Thầy, lặng lẽ làm công quả ban ngày, vui với những trang kinh, lời kệ tụng và đặc biệt là những lời Chơn Lý của Tổ sư Minh Đăng Quang khi đêm về. Cuộc sống du phương, đổi chỗ trụ thời bấy giờ làm tăng thêm tinh thần đời sống vô trụ, vô sản và vô chấp của người tu sĩ, phóng khoáng như hư không, chẳng dính bụi đời đã trở nên một nếp sống lý tưởng thật sự trong tâm thức của một vị xuất trần thượng sĩ. Tuy còn là một sa-di, nhưng với những phẩm chất cao quý của Hòa thượng, nên các bậc Tôn túc trong Giáo đoàn thường lưu tâm thương tưởng, huynh đệ pháp lữ không ai không quý mến, kính trọng.
Bốn năm sau, vào ngày Tự Tứ - Vu Lan Rằm tháng 7 năm Kỷ Dậu (1969), Ngài được Đức Thầy Giác An, khai lập Giáo đoàn III và Giáo hội Tăng Già truyền giới Cụ túc tại Tịnh xá Ngọc Hải – Cam Ranh – Khánh Hòa, trở thành vị Tỳ-kheo Khất Sĩ, gánh trên vai sứ mạng “tác Như Lai sứ, hành Như Lai sự”.
III. Thời kỳ hành đạo:
Sau khi thọ lãnh giới pháp Cụ túc, nghiêm trì giới pháp Phật Tăng xưa, phép Tăng chẳng lìa đoàn, theo sự sắp đặt của chư Tôn đức hành đạo trụ xứ khắp nơi, từ miền đồng bằng, duyên hải hay cao nguyên Trung phần, đâu đâu cũng có dấu chân, hình ảnh nhẹ nhàng của ngài. Ngài đã lưu trú các miền tịnh xá như: Ngọc Hạnh – Kon Tum, Ngọc Cát – Phan Thiết, Ngọc Sơn – Bình Định, Ngọc Phúc – Gia Lai, Ngọc Phú – Tuy Hòa, … Năm 1973, Ngài được Giáo đoàn cử về vùng Bình Tuy – Phan Thiết để nhận đất, thành lập cơ sở Tịnh xá Ngọc Minh (nay là xã Sông Phan, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận). Tại nơi này, sáng sáng Trưởng lão khất thực hóa duyên chẳng những gieo duyên cho người Phật tử tu tâm mà còn cảm hóa những người theo truyền thống tín ngưỡng tôn giáo khác, để lại hình ảnh một vị chân sư đạo hạnh vô cùng hiền đẹp trong lòng bá tánh quanh vùng cho đến ngày nay.
Tại quốc độ nầy, dường như hạt giống Phật pháp Ngài đã sẵn gieo tạo nhiều đời, nay đến thời kỳ đơm hoa kết trái. Gần tròn 40 năm qua, đầm sen thiêng Tịnh xá Ngọc Quang luôn tươi thắm tỏa ngát hương thiền. Nhiều thế hệ Phật tử tại thành phố Ban Mê Thuột và đồng bào dân tộc từ các quận huyện gần xa đều cảm mến đức độ từ hòa, lần về thọ giới quy y Tam bảo, nương bóng mát từ bi. Ngôi tịnh xá Ngọc Quang đơn sơ ngày nào, nay “tùng địa dũng xuất” trở thành ngôi phạm vũ trang nghiêm. Đồng thời, nhiều ngôi tịnh thất, tịnh xá... tại các huyện, xã vùng sâu vùng xa cũng được Ngài chứng minh khai lập hoằng pháp độ sanh, tạo nên một nếp sống từ hòa an vui.
Sau ngày Đức Thầy viên tịch, Ngài luôn nỗ lực cùng với các vị Tôn túc trong Giáo đoàn lúc bấy giờ như Quý Trưởng lão, Hòa thượng: Giác Phải, Giác Lượng, Giác Phất, Giác Dưỡng v.v... để điều hành mọi Phật sự. Đến năm Bính Thìn (1976), Ngài được Giáo đoàn suy cử làm Trị sự trưởng Giáo đoàn. Từ đây, ngoài sứ mệnh tiếp Tăng độ chúng, hướng dẫn Phật tử tu học, Ngài phải gánh thêm trọng trách Phật sự. Ngài luôn là vị giáo phẩm, kề cận với Trưởng lão Giác Phải và Trưởng lão Giác Phúc giải quyết mọi Phật sự trong Giáo đoàn.
Sau ngày Trưởng lão Giác Phúc – đệ tam Trưởng Giáo đoàn viên tịch (năm 2001), với sứ mạng tiếp nối mạng mạch của Phật pháp, giữ vững đường lối của Tổ Thầy, Ngài được Giáo đoàn cung kính suy tôn làm Đệ tứ Trưởng giáo đoàn.
 III – Hệ phái Phật giáo Khất Sĩ:
Song song với trọng trách của Giáo đoàn, Ngài còn được chư Tôn túc trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại tỉnh Đăk Lăk đề cử tham gia Ban trị sự Tỉnh hội để chung tay góp sức vận hành Phật sự. Sau khi Hòa thượng Thích Quang Huy viên tịch năm 1992, Ngài được chư Tôn túc cung cử trách nhiệm Quyền trưởng ban Trị sự Phật giáo tỉnh từ năm 1992 đến năm 1997. Từ năm 1997 – 2007, Ngài được suy cử lên làm Trưởng ban Trị sự Phật giáo tỉnh Đắk Lắk (2 nhiệm kỳ). Trong thời gian này, Ngài đã tùy duyên, tùy thời, tùy xứ xử lý các Phật sự để đem đạo vào đời. Các ngôi đạo tràng tự viện, tịnh xá, tịnh thất, Niệm Phật đường được Ngài khích lệ thành lập đúng với Hiến chương của Giáo hội và Luật pháp của xã hội, nhằm góp phần ổn định tín ngưỡng trên vùng Cao nguyên đất đỏ Bazan này.
Trong thời gian Ngài hành đạo, Ngài đã đem ánh đạo giải thoát, quy y rất nhiều cho đồng bào dân tộc ít người. Ngài thường dạy chư Tăng và Phật tử về tiềm năng giác ngộ của mỗi chúng sanh và thường lấy lời dạy của Đức Phật trong kinh Pháp Hoa dạy lại cho môn đồ đệ tử “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Đức Phật là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành” để khích lệ mọi người nhận chân được giá trị phẩm hạnh của mỗi người để tự thân vươn lên, để viên thành Phật quả.
Sau 2 nhiệm kỳ làm Trưởng ban Trị sự Tỉnh hội, Trưởng lão được HĐTS GHPGVN tấn phong lên hàng Giáo phẩm Hòa thượng Chứng minh Ban trị sự Phật giáo tỉnh Đăk Lăk (2007 – 2012). Trong thời gian này, ngoài những Phật sự tại tỉnh nhà khi cần phải chứng minh, trai tăng, cầu âm siêu dương thới, Ngài tranh thủ hành đạo ra miền Trung và miền Bắc như Quảng Trị, Nghệ An, Hà Tĩnh, Nam Định, Bắc Giang, Hải Dương, v.v... Sự xuất hiện của một vị Trưởng lão nhỏ người, ít nói, hay cười, bao dung, tùy hỷ đã đem đến sự bình an và hỷ lạc cho biết bao người.
Ngoài những chuyến hoằng pháp xa trong nước, Ngài còn đi vài nước trên thế giới để kết duyên cùng với chư Tôn đức Tăng Ni và Phật tử ở Mỹ, Úc và Thái Lan. Trong những chuyến đi ấy, những ấn tượng hết sức sâu sắc về hạnh thanh bần thủ đạo của một bậc chân tu đã để lại trong lòng Tăng Ni và Phật tử.
Đối với Hệ phái Phật giáo Khất Sĩ, Ngài luôn là một vị giáo phẩm khiêm cung đối với chư Tôn đức lãnh đạo. Khi nào Hệ phái cần sự có mặt của Ngài trong các khóa Bồi dưỡng Trụ trì, Giải hạ, hay Đặt đá, Khởi công, Khánh thành… hay là sự góp ý cho các Phật sự chung, chưa bao giờ Trưởng lão vắng mặt. Đầu năm 2010, khóa tu GIỚI ĐỊNH HUỆ TRUYỀN THỐNG KHẤT SĨ được hình thành mỗi năm 3 khóa, luân phiên các Giáo đoàn, Ngài hầu như có mặt đầy đủ để đồng hành và chia sẻ trách nhiệm với chư Tôn đức Giáo phẩm Hệ phái, với những vai trò như: Giám thiền, Giám luật hoặc Hóa chủ. Sự sách tấn nhẹ nhàng, tùy hỷ và khích lệ hành thiền của Ngài đối với hành giả luôn là sự nâng đỡ bước chân tu tập của mỗi người đến với khóa tu.
Trong những năm tháng cuối đời của Hòa thượng, Ngài rất quan tâm chăm lo đời sống tinh thần của chư Tăng Ni trong Giáo đoàn, nên từ năm 2010, Ngài đã tổ chức các chuyến viếng thăm tất cả các miền tịnh xá thuộc Giáo đoàn III. Nơi nào Ngài đến đều ở lại 2 đến 3 ngày để an ủi, sách tấn, khích lệ chư Tăng Ni và Phật tử thông qua các buổi thuyết pháp cúng ngọ, trai tăng và chuyện trò thân mật.
Thấy được tiềm năng tu tập, giác ngộ của hàng Tăng Ni trẻ, thế hệ “Kế vãng khai lai” nên Ngài đã noi theo sự tổ chức của các bậc đi trước như Trưởng lão Giác Phải khi còn sinh tiền và Hòa thượng Giác Giới thuộc Giáo đoàn I, nên Ngài đã tổ chức khóa “BỒI DƯỠNG ĐẠO HẠNH” cho hàng Sa-di, Sa-di-ni và Tập sự trong đoàn mỗi năm 3 khóa. Sự hiện diện chứng minh trong những buổi khai mạc hoặc bế mạc là một ân phước đối với hàng Tăng Ni trẻ, bởi vì nơi ấy suối nguồn diệu giác của một bậc chân tu đạo hạnh khơi nguồn từ mạch từ bi và trí tuệ được tuôn chảy vào tâm thức trắng trong của thế hệ học trò.
Ngoài ra, Trưởng lão là một bậc chân tu cấp tiến. Ngài khích lệ, tạo điều kiện cho đệ tử trong đoàn và tại tịnh xá xuất dương cầu học Phật pháp, nắm vững Pháp học để làm phương tiện độ sanh và tu tập cho bản thân.
Đối với các công tác xã hội, Ngài luôn luôn tùy duyên, tùy hỷ và có những đóng góp tích cực khi duyên đến. Chính vì vậy, các giới chức năng luôn hoan hỷ khi mời Ngài tham gia vào các vai trò như:
Năm 1986 – 2013: Ủy viên Ban chấp hành Ủy ban MTTQVN tỉnh Đắk Lắk;
Năm 1996 – 2006: Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Lắk;
Năm 2009 – 2013: Ủy viên Ủy ban Trung ương MTTQVN nhiệm kỳ VII.
Ngoài ra, Ngài còn là Ủy viên Ban Chấp hành Hội khuyến học, khuyến tài tỉnh Đắk Lắk và Ủy viên Ban Chấp hành Hội đồng Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đắk Lắk.
Để ghi nhận và tán dương những đóng góp của Ngài với Đạo pháp và Dân tộc, Ngài đã được Nhà nước và Giáo hội trao tặng nhiều bằng khen:
- Huân chương “ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC” do Chủ tịch nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tặng.
- Huy chương “VÌ SỰ NGHIỆP ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC” do Ủy Ban Trung ương MTTQVN tặng.
- Bằng “TUYÊN DƯƠNG CÔNG ĐỨC” năm 2002, năm 2007 và năm 2012 do Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN tặng.
Công đức hoằng dương Phật Pháp của Hòa thượng thật lớn lao, nên tại Đại hội Phật giáo toàn quốc nhiệm kỳ VII (2012 - 2017), GHPGVN suy tôn Hòa thượng vào Ban Thường trực HĐCM GHPGVN.
V. Những ngày tháng cuối đời:
Đầu năm 2013, sức khỏe của Ngài không còn ổn định như xưa, thỉnh thoảng có những cơn đau do tứ đại bất hòa. Như thường lệ, Ngài không nói gì về tình trạng sức khỏe của mình, chỉ lặng lẽ nhịn cơm, uống nước lã và tu thiền trị bệnh. Từ ngày tu tới ngày viên tịch, ngài chưa dùng thuốc, dù là loại thuốc gì, chỉ kham nhẫn chịu đựng và dùng pháp môn Sổ Tức Quán để điều hòa thân tứ đại giả hợp. Sau những ngày tự trị bệnh như vậy, sức khỏe lại bình phục, rồi Ngài vẫn thuyết pháp, giảng đạo, cúng trai tăng, chứng minh các Phật sự của Giáo hội, Hệ phái, hay của Giáo đoàn.
Sáng ngày 25 tháng 2, sức khỏe Ngài vẫn kiện khương, Ngài đã hoan hỷ chứng minh cho hỷ sự hằng thuận của một gia đình Phật tử có truyền thống quy y Tam bảo, phụng sự Phật pháp gắn bó mọi sinh hoạt của tịnh xá. Sau khi thuyết giảng về ý nghĩa tương quan tương duyên trong các mối quan hệ và tầm quan trọng của nếp sống đạo đức qua ngũ giới, Ngài đã thu thần thị tịch tại Chánh điện Tịnh xá Ngọc Quang lúc 9g45 phút ngày 25 tháng 2 năm Quý Tỵ (nhằm 05 tháng 4 năm 2013).
Trụ thế: 84 năm
Hạ lạp: 44 năm
Cung cách xưa nay của Ngài thầm lặng, đến đi tự tại, tùy duyên vô ngại như cánh hạc thinh không. Gần 45 năm tận tụy hết lòng phục vụ Đạo pháp, Giáo hội, nghiêm trì giới luật, khơi thông Tổ mạch, thắp sáng đèn thiền. Những đóng góp của Ngài cho đạo pháp và quê hương thật vô cùng cao quý, không sao kể hết, làm rạng danh tông môn Khất Sĩ, xứng danh bậc “Tòng lâm thạch trụ” của GHPGVN.
Dẫu rằng, Trưởng lão đã đi vào thế giới vô tung bất diệt, nhưng gương sáng giới hạnh, và tinh thần phục vụ Đạo pháp - Dân tộc suốt cuộc đời của Ngài vẫn còn mãi mãi trong lòng của mọi người, mọi Phật tử, Tăng Ni trong Giáo đoàn và Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Dân tộc Việt Nam.
Môn đồ pháp quyến kính ghi
http://www.daophatkhatsi.vn/he-phai/chan-dung-khat-si/ton-duc-tang/1224-ti%E1%BB%83u-s%E1%BB%AD-tr%C6%B0%E1%BB%9Fng-l%C3%A3o-h%C3%B2a-th%C6%B0%E1%BB%A3ng-gi%C3%A1c-d%C5%A9ng-th%C3%ADch-gi%C3%A1c-d%C5%A9ng-1929-2013.html

Thứ Hai, 8 tháng 4, 2013

Số Tức Quan



Hòa thượng Thích Giác Dũng
Tu theo “Số Tức Quan”
Nhân dịp Đại lễ Tưởng niệm 55 năm Tổ Sư Minh Đăng Quang vắng bóng, tôi xin được chia sẻ đôi điều mà tôi đã trăn trở cũng như nhận thức và kinh nghiệm mà tôi đã thọ học, tu tập theo đường lối của Tổ Sư, đặc biệt thông qua bài “Số Tức Quan” trong bộ Chơn Lý.
 Hòa thượng Tôn sư Thích Giác Dũng
Tôi gặp Phật Pháp thời trung niên. Mến mộ hạnh Khất Sĩ đơn giản, thanh bần, chơn tu giải thoát mà xuất gia. Bài học đầu tiên về pháp môn tu của tôi thời đó là bài “Số Tức Quan”. Như người khát được uống, người đói được ăn. Tôi đã đọc bài này và thực tập, thấy hiệu quả ngay trong đêm thực tập. Kể từ đó, pháp môn Số tức quan là pháp môn căn bản cho việc hành trì của bản thân. Mỗi ngày mỗi đêm và những giờ khắc không công quả hoặc rảnh các Phật sự, tôi lặng lẽ hành trì và nhờ thế sức khỏe được tốt hơn và đời sống thêm an lạc.
Vào giai đoạn sau 1975, ai cũng có nhiều việc phải làm, nên chúng tôi theo hạnh của ngài Bách Trượng bên Trung Hoa “một ngày không làm, một ngày không ăn” (Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực) nên không có thời gian nhiều để hành trì bình khất thực hóa duyên như những ngày đầu mới xuất gia. Dẫu vậy, tôi cũng thực tập phép tu số tức quan đều đặn, mỗi ngày 2 thời: tối trước khi đi ngủ và vừa sau khi thức giấc. thỉnh thoảng tôi đã vận dụng pháp môn này trong những lúc đi bộ đường xa. Thời đó có khi làm cả 10km mà chỉ đi bộ. Đã không có thời gian để tĩnh tọa thì tranh thủ thiền hành vậy. Thực ra, hồi đó cũng không có nhiều vị chỉ rõ, thuyết minh pháp tu trong khi đi, đứng, nằm, ngồi, ăn, mặc, nói, làm. Các ngài đơn giản chỉ giữ oai nghi, chánh hạnh trong mỗi cử chỉ, hành động của mình, và bản thân tôi cũng thế. Không ngờ sau này tôi mới biết ra đó là công phu căn bản mà mỗi người tu cần phải hàm dưỡng. Và đó cũng là điều rất khó thực hiện của mỗi người tu.
Bài “Số Tức Quan” ý tứ thâm diệu, tôi đọc đi đọc lại nhiều lần để nhắc nhở mình tu và lần dò phương pháp tu; mỗi lần đọc lại y như là một liều thuốc bổ dưỡng tinh thần, khiến cho tâm trí càng thêm sáng suốt.Và cứ như thế tôi thực tập hết cách này đến cách khác trong số tức quan, thấy hiệu nghiệm vô cùng. Pháp nào cũng đưa đến sự nhẹ nhàng thân tâm, làm cho nội tâm bớt vọng động, đời sống thêm thảnh thơi. Nhân đây, tôi xin chia sẻ pháp môn tu của tôi dựa vào bài “Số Tức Quan” mà Tổ sư Minh Đăng Quang đã chỉ dẫn. Các đoạn in nghiêng đều trích từ bài “Số Tức Quan” trong Chơn Lý.
VỀ NHẬN THỨC:
“Về hơi thở, người ta luyện thế nào cũng được, cốt yếu là để tập định, nhưng lúc hành thì phải kinh nghiệm, xem chừng từng chút sự khác lạ, kẻo thái quá bất cập có điều trở ngại, tai hại cho thân thể, làm mất an vui, tấn hóa. Người ta cũng có thể, cần phải biết ra nhiều cách thở, để đặng thay đổi pháp hành tùy theo căn duyên, trình độ, cho thuận tiện tinh tấn. Hơi thở là một đề mục trong muôn ngàn đề mục thiền định, chớ chẳng phải một môn độc nhất để đến thiền định”.
Như vậy, chúng ta thấy Tổ sư đã nêu rõ, hơi thở chỉ là một trong những đề mục cho chúng ta nhiếp niệm, nhập định, đắc quả linh, chứ không phải là cái gì “duy nhất” để rồi chúng ta khư khư, mắc kẹt trong đó, sanh ra chủ quan, tự cao tự đại và không dung được các đề mục mà các thiền sư khác hướng dẫn.
VỀ HÀNH TRÌ:
Cũng như các đề mục khác, đề mục hơi thở cũng tùy theo căn tánh và hạnh nghiệp của mỗi người mà thuận hạp và có kinh nghiệp khác nhau. Ở đây, tôi xin tin lọc các cách căn bản mà Tổ sư đã hướng dẫn, đồng thời bản thân tôi đã tu tập, trải nghiệm và thấy có kết quả lớn.
Cách 1:
“… tập sự chăm chú, chăm chỉ đếm một, hai, ba… đến trăm ngàn muôn trong mỗi lúc, một con số nhất định, bằng hơi thở ra vào; hay đếm những danh hiệu Phật, mỗi hơi thở mỗi tên, đếm mãi từ xuôi tới ngược, từ ngược tới xuôi để đặng kềm ý phục tâm một chỗ cho quen, đặng đến lần số tức quan nhập định”.
Cách 2:
“… Hơi thở hít vô, kéo dài nhè nhẹ, niệm tưởng thầm rằng “Nam Mô A” chậm rãi đến mãn hơi, dội trở ra cũng kéo dài nhè nhẹ, niệm tưởng thầm rằng “Di Đà Phật” chậm rãi đến mãn hơi; thâu vô trở lại niệm tưởng nữa, làm thành vòng tròn, bằng sáu chữ “Nam Mô A Di Đà Phật” và liên tiếp những vòng tròn. Đi đứng nằm ngồi đều niệm mãi, tập không cho bỏ sót một hơi thở nào, trừ ra lúc ngủ quên, hay khi nói chuyện. Kẻ ấy bằng định tâm được như thế cũng khá, lục căn sẽ thanh tịnh lần, và sẽ đến được giác ngộ…”.
 Cách 3:
“… Hơi vô đếm một, hơi ra đếm hai. Mãi đếm một hai hoặc đến bao nhiêu cũng được. Có người niệm tưởng một câu pháp, niệm danh hiệu Phật khác, hoặc một cái chi, đề mục nào cũng nên ích lợi, vì cốt ý là để trụ tâm. Những kẻ yếu tâm hay loạn, thì trước niệm ra tiếng cho quen, kế đó niệm thầm cho tai nghe theo hơi thở, tiếp nữa không niệm hơi thở quen chừng như có niệm sau rốt mất niệm mà hơi thở vẫn điều hòa khỏe nhẹ…”.
Cách 4:
“… Đếm số từ chặng, để dẫn hơi lên xuống, từ lỗ mũi tới cuống cổ, tới chớn thủy, tới rún, tới bụng dưới, hay cho chạy khắp thân mình, từng chỗ ý định, bằng tư tưởng tập luyện cho quen”.
Cách 5:
“… lúc đầu niệm danh Phật … theo hơi thở vô, còn hơi thở ra thì xả bỏ, gọi là niệm thâu vô, lâu sau còn niệm vô một câu, lần đến còn một tiếng, kế đó nhớ tưởng theo hơi thở mà thôi niệm…”.
Cách 6:
“…tùy duyên cảnh mà phát niệm. Ví như trong lúc đói thì học niệm no no no vài ba tiếng, nói ra theo hơi thở, rồi sau niệm thầm theo hơi thở ra vô một hơi một tiếng, kế đếm mỗi hơi thở ra vô, học chỉ còn nhớ tưởng một tiếng no in trí sau rốt còn hơi thở tự nhiên, êm nhẹ mất hẳn tiếng no và nhập định”.
 Cách 7:
“… dùng một tiếng “định” một. Hoặc một tiếng “chết” một, một tiếng “ngủ” một, hay một tiếng “nghỉ”  một v.v… Người ta dùng một tiếng chi cũng được, tùy theo duyên cảnh. Ví như mệt thì nói khỏe, đau thì nói mạnh, nóng thì nói mát, khi buồn thì nói vui,v.v…Người ta dùng một tiếng tương đối để làm pháp đối trị giặc nghịch phiền não, đặng an tâm vào hơi thở, mà đến Niết bàn vắng lặng”.
 Cách 8:
 “Phép ngó chừng trái tim”.
 Trên đây là 8 cách hành trì mà các hành giả tu thiền định phần lớn hành trì đã được Tổ Sư Minh Đăng Quang nêu rõ trong bài Sổ Tức Quan. Tôi nghe các đệ tử của tôi nói lại, các vị Thiền sư Thái Lan và Miến Điện đều linh hoạt sử dụng các đề mục và có thể sử dụng mọi phương tiện để hướng dẫn hành thiền, chẳng hạn như cho phép đệ tử niệm Nam mô Phật Đà (Namo Buddho) khi hít vào, thở ra để cột tâm trên đề mục, hoặc hướng dẫn hành giả nhìn vào trái tim của mình để an trụ thân tâm và qua đó quán sát các cảm thọ sinh khởi trên thân. Các phương pháp này cốt yếu cũng giúp cho tâm được định vậy.
Điểm Cốt Tủy Cần Phải Nhớ:
“Tất cả những phép tu tập hơi thở có khó dễ khác nhau, nhưng chẳng có cách nào qua lẽ tự nhiên bình thường này: là người ta phải đừng cố ý chăm chú vào riêng hơi thở, nhưng người ta mỗi lúc nào cũng phải ngăn đón sự thái quá thở mạnh, càng bất cập thở nhẹ, tức là phải giữ làm sao hơi thở được mực trung điều hòa nhau như sợi dây ngang thẳng chẳng gợn sóng, như cái vòng tròn không cho móp méo. Nghĩa là không có tu luyện mà phải làm sao, hơi thở của tâm, hơi thở của trí, hơi thở của thân hòa nhau một mực, ấy là đắc đạo, đắc đại định, trung đạo, chánh đẳng chánh giác. Đó là một pháp tu chân, đúng lý, rất giản tiện, thật thông thường, nhưng chúng sanh thì thái quá bất cập đã quen nên khó lòng bền chí thật hành. Vậy thì tất cả các phép tu, không có phép nào qua sự tự nhiên, vì tự nhiên chân như là định, trung đạo, còn các pháp tu, là dùng trừ thái quá bất cập, để đặng giữ cái trung đạo tự nhiên chân như định, chớ không phải tu là để tìm thái quá bất cập, hai bên lề. Bởi cái sống, biết, linh là ai cũng đang sẵn có, mà vì bị thái quá bât cập vọng loạn, và không nên chấp có hơi thở tưởng đếm chi số tức quan”.
 Qua đây, chúng ta thấy Tổ Sư nhấn mạnh đến giáo lý Trung đạo mà ngay bài pháp đầu tiên Đức Phật đã nhấn mạnh và triển khai cho năm người bạn cũ đồng tu xưa kia là năm anh em A-nhã Kiều-trần-như. Đạo Phật lấy giáo lý Trung đạo làm trọng tâm. Bất kỳ pháp môn tu nào thái quá đều dẫn đến bất cập và không thể nào thành tựu đạo quả. Ngay cả lộ trình tu ngũ căn để phát triển thành ngũ lực cũng cần phải quân bình. Chính trạng thái quân bình (tâm xả) đó mới có thể dẫn đến Đạo, Quả và Niết-bàn được.
Cách Tu Tập Để Nhận Định và Ngăn Ngừa Bệnh Tật:
Những ngày thời khí thay đổi hoặc làm việc quá sức, thân thể trở nên uể oải, mệt mỏi hoặc những lúc ăn phải những thực phẩm không phù hợp với cơ thể, chúng ta có thể phối hợp cách tu sau để điều hòa thân thể:
“…Ngồi trói ngay thân thể, mắt ngó xuống, cắn răng ngậm môi, hít hơi vô thật mạnh, dài xuống đến khỏi rún, phình bụng dưới ra, và khi tóp bụng dưới lại, thở hơi dài mạnh ra ngoài, đếm thầm một; kế đến hít dài mạnh vô, thở dài mạnh ra đếm thầm hai; người càng thở dài mạnh thêm lên và đếm mãi, theo con số nhứt định, mấy trăm, mấy ngàn mỗi ngày và càng ngày càng tăng con số ấy… Vì hơi thở vô mạnh, làm cho nở thông buồng phổi, quạt lửa trái tim xuống, trợ ấm bao tử, mau tiêu hóa vật thực và đem sức nóng giúp cho tinh thận phía sau, làm cho lửa trên dưới thông nhau, chạy khắp cùng mình nóng rực, hơi bốc ra mồ hôi đượm chảy, sanh máu tốt, trợ gan mạnh, giúp sức ngũ tạng làm cho ấm đặt nước tinh ba, sanh hơi khí mạnh, rút lửa từ trên đầu xuống, mắt sáng, tai thông, đầu nhẹ, trán mát, lưỡi ngọt, mũi sạch. Hơi trong mình bốc ra sẽ đuổi xua độc khí bên ngoài, ngừa bệnh chữa bệnh tạm mau chóng. Để rồi, sau mỗi lúc hơi thở sẽ bình thường và nhẹ nhẹ lần nhập định luôn, không còn đếm niệm, đó cũng là phép đổi lửa, quạt lửa tùy theo mỗi lúc”.
Tôi tin tưởng rằng, dù các Thiền Sư có triển khai các phương tiện, kỹ thuật để giúp hành giả an trụ được thân tâm theo lộ trình mà mình đã kinh qua hoặc như Kinh Đại Niệm Xứ trong Trường Bộ đã triển khai, cũng không khác gì những điều Tổ Sư Minh Đăng Quang đã trình bày bàng bạc trong bộ Chơn Lý mà những đoạn trên tôi trích dẫn cũng chỉ là phản ánh một phần nào.
Tôi xin kính tặng chư Tôn thiền đức Tăng Ni và các Phật tử bài thi kệ mà chúng tôi đã cảm tác về cách tu mà tôi đã trải nghiệm:
Ngồi thiền lưng thẳng, đầu không nghiêng
Hít sâu, thở nhẹ, khí đan điền
Cô tinh, thần mạnh thông kinh mạch
Trí tánh giao hòa dứt đảo điên.
Đi, đứng, nằm, ngồi trong tĩnh lặng
Thấy, nghe, ngửi, nếm… thảy an nhiên
Toan vun chánh pháp lòng thanh thản
Khất thực hóa duyên dứt não phiền.
Tôi cũng như nhiều vị Khất Sĩ cùng thời, hầu như đều không có duyên học rộng. Chỉ tin tưởng rằng hương giới hạnh của Phật Tăng xưa một phần nào đó còn đọng lại qua hình ảnh của các bậc Tổ, các bậc Thầy hiền. Pháp nhũ của Phật Tổ còn bàng bạc trong từng trang kinh sách. Đời sống của các Sư Khất Sĩ chơn chánh không tiền bạc, của riêng. Ngày ăn hai bữa sớm trưa lê hoắt qua ngày, cơm dưa rau muối mà tiêu lòng tục, quả thật là đời sống lý tưởng của người xuất gia giải thoát. Hạnh nguyện độ sanh thì canh cánh bên lòng, muốn vận dụng các phương tiện huyền xảo để độ sanh, để kéo chúng sanh ra khỏi lưới mê, mà bản thân cũng không xa rời cứu cánh là điều tôi hằng trăn trở. Làm thế nào để huân tu thiền định, để nối được hạnh nguyện của Tổ Thầy là điều mà có lẽ rằng ai cũng mong ước. Rất mong chư Tôn đức trong hệ phái và chư đại đức Tăng Ni trẻ nắm vững pháp học để rồi hạ thủ công phu nghiêm mật, làm cho Phật Pháp ngày một xương minh, bản thân dứt não phiền và chúng sanh cũng được hóa độ.
Nhân mùa xuân về, tôi kính chúc chư Tôn thiền đức Tăng Ni và quý Phật tử một mùa xuân đạo hạnh:
Nở rộ đóa hoa tâm,
Tỏa ngát hương giới đức,
Thong dong và tự tại,
Bất nhiễm giữa hồng trần.

http://www.daophatkhatsi.vn/giao-phap-khat-si/chon-ly/luan-giai/1202-tu-theo-s%E1%BB%91-t%E1%BB%A9c-quan.html